Cộng đồng thực hành (community of practice) là một nhóm người cùng làm một nghề hoặc cùng quan tâm một vấn đề, gặp nhau đều đặn để chia sẻ cách làm, cùng giải quyết khó khăn và qua đó giỏi lên. Với giáo viên mầm non, đó có thể là năm cô ở ba trường khác nhau cùng loay hoay với chuyện cho trẻ hai tuổi làm quen lớp, gặp nhau mỗi tháng một lần để kể lại mình đã thử gì và trẻ phản ứng ra sao.
Khác với một lớp tập huấn, không có ai đứng trên bục giảng. Khác với tổ chuyên môn trong trường, cộng đồng thực hành không do cấp trên giao, không có chỉ tiêu, và thường vượt ra ngoài ranh giới một trường. Bài này giải thích khái niệm theo đúng nguồn gốc của nó, chỉ ra vì sao giáo viên mầm non đặc biệt cần một cộng đồng như vậy, và gợi ý cách khởi động với một nhóm nhỏ.
Ba thành phần của một cộng đồng thực hành
Nguồn gốc khái niệm. Thuật ngữ được nhà nhân học Jean Lave và nhà nghiên cứu giáo dục Etienne Wenger đưa ra trong cuốn Situated Learning: Legitimate Peripheral Participation (1991), khi nghiên cứu cách người học nghề như thợ may, bà đỡ trở thành người thạo nghề qua việc tham gia dần vào công việc của những người đi trước. Wenger phát triển tiếp trong cuốn Communities of Practice (1998), và cùng Richard McDermott, William Snyder viết Cultivating Communities of Practice (2002) cho các tổ chức muốn nuôi dưỡng những cộng đồng như vậy.
Lĩnh vực chung (domain). Mọi người trong nhóm cùng quan tâm một vùng chuyên môn đủ rõ để biết mình nói chuyện gì. “Giáo dục mầm non” thì quá rộng; “tổ chức hoạt động góc cho lớp đông trẻ” hay “trẻ chưa nói tiếng Việt khi vào lớp” thì đủ hẹp để cả nhóm thấy chuyện của người này là chuyện của mình.
Cộng đồng (community). Các thành viên quen nhau, tin nhau đủ để kể cả những lần làm hỏng. Sự tin cậy không tự có mà hình thành qua các lần gặp đều đặn. Một nhóm chat ba trăm người hiếm khi là cộng đồng theo nghĩa này, vì phần lớn người trong đó không biết nhau.
Thực hành (practice). Nhóm tích luỹ dần một vốn chung: cách làm đã thử, câu chuyện lớp học, đồ dùng tự làm, những câu hỏi hay. Đây là chỗ cộng đồng thực hành khác một câu lạc bộ sở thích. Nó phải để lại thứ gì đó mà thành viên đem về lớp dùng được.
Khác tổ chuyên môn trong trường và lớp tập huấn thế nào
Ba hình thức đều giúp giáo viên học, nhưng vận hành khác nhau. Hiểu khác biệt giúp không bắt cộng đồng thực hành gánh việc của tổ chuyên môn, và ngược lại.
| Khía cạnh | Tổ chuyên môn trong trường | Lớp tập huấn, bồi dưỡng | Cộng đồng thực hành |
|---|---|---|---|
| Ai lập ra | Nhà trường theo Điều lệ | Cơ quan quản lý hoặc đơn vị đào tạo | Chính các thành viên, có thể có người khởi xướng |
| Tham gia | Bắt buộc với giáo viên trong tổ | Theo danh sách được cử đi | Tự nguyện |
| Nội dung | Kế hoạch năm học, chuyên đề được giao | Chương trình soạn sẵn | Vấn đề thành viên đang gặp |
| Người dẫn | Tổ trưởng | Giảng viên, báo cáo viên | Người điều phối, thường luân phiên |
| Sản phẩm | Biên bản, kế hoạch, kết quả đánh giá | Chứng nhận hoàn thành | Cách làm, câu chuyện, học liệu dùng chung |
| Thời gian sống | Theo năm học | Theo khoá | Đến khi nhóm không còn cần |
Hai hình thức đầu có thẩm quyền và nguồn lực; hình thức thứ ba có sự tự nguyện và độ thật. Một giáo viên có thể ở cả ba. Điều hay xảy ra là khi một cộng đồng thực hành được “chính thức hoá” thành tổ có chỉ tiêu, có biên bản, nó mất dần chính cái làm nên giá trị của nó.
Vì sao giáo viên mầm non đặc biệt cần một cộng đồng như vậy
Giáo viên mầm non làm việc trong điều kiện khá cô lập về chuyên môn. Cả ngày cô ở với trẻ, từ giờ đón đến giờ trả, ít có khoảng trống để sang lớp bên cạnh xem đồng nghiệp làm gì. Nhiều trường chỉ có một hai lớp cùng độ tuổi, nên cô dạy nhóm nhà trẻ hai mươi bốn tháng có khi không có ai cùng trường để hỏi chuyện chuyên sâu về lứa tuổi đó.
Ở các nhóm lớp độc lập, nhóm trẻ gia đình và trường tư thục nhỏ, sự cô lập còn rõ hơn: không có tổ chuyên môn đúng nghĩa, ít được cử đi tập huấn, và người chủ nhóm lớp thường kiêm luôn việc đứng lớp. Ở trường vùng ven và khu công nghiệp, giáo viên gặp những vấn đề mà sách hướng dẫn ít nói tới, như trẻ đến trường theo ca làm của cha mẹ, trẻ chuyển đi chuyển đến giữa năm, hoặc lớp đông vượt sức.
Những vấn đề như vậy không có đáp án chuẩn để tra. Cách giải quyết nằm trong kinh nghiệm của những người đã gặp nó trước. Cộng đồng thực hành là cách gom kinh nghiệm phân tán đó lại. Lave và Wenger nhấn mạnh rằng phần lớn tri thức nghề là tri thức “gắn với tình huống”, khó viết thành giáo trình, chỉ truyền được khi người ta cùng làm, cùng kể, cùng xem.
Còn một lý do mềm hơn nhưng không kém thật: cảm giác không đơn độc. Biết rằng cô ở trường khác cũng từng khóc vì một ngày có ba bé khóc suốt buổi giúp giáo viên trẻ đỡ nghĩ rằng mình không hợp nghề.
Vòng đời của một cộng đồng thực hành
Trong cuốn sách năm 2002, Wenger, McDermott và Snyder mô tả các cộng đồng thường đi qua những giai đoạn phát triển. Biết trước giúp người khởi xướng không nản khi nhóm chưa “chạy” ngay.
- Manh nha. Vài người nhận ra mình có chung một mối bận tâm và có lợi khi nói chuyện với nhau. Việc chính lúc này là tìm đúng câu hỏi chung và đúng vài người đầu tiên.
- Kết nối. Nhóm bắt đầu gặp đều. Các buổi đầu thường vụng: chưa biết nói gì, ai nói, nói bao lâu. Việc chính là tạo được giá trị ngay từ sớm, để thành viên thấy đáng bỏ thời gian.
- Trưởng thành. Nhóm có nhịp gặp, có vốn chung, có người mới xin vào. Câu hỏi lúc này là mở rộng bao nhiêu thì vẫn giữ được sự tin cậy, và vốn chung cất ở đâu cho người sau dùng.
- Duy trì. Nhóm đã vững, nhưng có nguy cơ thành nếp cũ, ít điều mới. Việc chính là làm mới chủ đề, mời người ngoài, thay người điều phối.
- Chuyển hoá. Nhóm có thể tan khi mối quan tâm chung không còn, hoặc tách thành nhóm mới, hoặc nhập vào một cấu trúc khác. Kết thúc không phải thất bại nếu nhóm đã để lại vốn cho người khác dùng.
Các giai đoạn này là mô tả từ quan sát, không phải công thức bắt buộc. Nhiều nhóm nhỏ của giáo viên chỉ sống một hai năm, giải xong một chuyện chung rồi tan, và như thế đã là thành công.
Người điều phối làm những việc gì
Giữ nhịp. Nhắc lịch, chọn chỗ, giữ giờ. Đây là việc nhàm nhưng quyết định: nhóm nào lỡ hai buổi liền thường không gặp lại nữa.
Đặt câu hỏi cho buổi gặp. Thay vì “tháng này mọi người có gì chia sẻ không”, người điều phối mời trước một hai cô chuẩn bị kể một tình huống cụ thể, kèm câu hỏi mình đang bí. Buổi gặp có tâm điểm thì người dự có cái để góp.
Mời người im lặng nói. Giáo viên trẻ, giáo viên ở trường nhỏ hay ngại nói trước người có thâm niên. Người điều phối chủ động hỏi họ, hoặc chia nhóm đôi để ai cũng có lượt.
Ghi lại vốn chung. Sau mỗi buổi, một trang ngắn: tình huống, các cách đã thử, điều cả nhóm rút ra. Theo thời gian, những trang này thành tài liệu quý hơn nhiều so với biên bản ghi “buổi sinh hoạt diễn ra sôi nổi”.
Luân phiên. Vai điều phối nên chuyển sau một thời gian, ví dụ mỗi học kỳ. Nếu mãi một người, nhóm dễ thành “nhóm của cô ấy”, và khi cô ấy bận, nhóm tan theo.
Dấu hiệu cộng đồng đang thành hình thức
Nhà nghiên cứu giáo dục Andy Hargreaves từng dùng cụm “sự hợp tác gượng ép” (contrived collegiality) để chỉ những hình thức hợp tác giáo viên do cấp trên dựng lên, có lịch, có biên bản, nhưng thiếu động lực thật bên trong. Cộng đồng thực hành dễ trượt vào tình trạng đó khi bị gắn chỉ tiêu.
Vài dấu hiệu đáng để ý: buổi gặp kết thúc bằng việc phân công viết báo cáo; thành viên chỉ kể chuyện thành công, không ai dám kể chuyện hỏng; nội dung lặp lại những gì đã có trong văn bản hướng dẫn; người đến dự để điểm danh rồi về; nhóm không còn ai mới tham gia trong một thời gian dài.
Khi thấy những dấu hiệu này, câu hỏi đáng đặt lại là: nhóm đang giải quyết vấn đề của ai? Nếu là vấn đề của cấp quản lý cần có sản phẩm báo cáo, thì nên tách phần đó cho tổ chuyên môn lo, để cộng đồng quay về với vấn đề của người đứng lớp. Thu nhỏ nhóm lại, đổi câu hỏi chung, hoặc tạm nghỉ một thời gian rồi khởi động lại với ai thật sự muốn, đều là lựa chọn hợp lý hơn duy trì một vỏ rỗng.
Khởi động với năm người: một lộ trình ba tháng
Nhóm nhỏ dễ tạo tin cậy hơn nhóm lớn. Năm đến tám người là cỡ vừa cho giai đoạn đầu. Lộ trình dưới đây là gợi ý, không phải mẫu bắt buộc.
- Tuần 1–2: chọn câu hỏi chung. Người khởi xướng nói chuyện riêng với vài đồng nghiệp ở trường mình và trường gần, tìm một vấn đề nhiều người cùng gặp. Viết câu hỏi đó thành một câu.
- Tuần 3: buổi gặp đầu. Một tiếng rưỡi, chỗ yên tĩnh, có nước uống. Mỗi người kể một tình huống liên quan câu hỏi chung. Cuối buổi chốt lịch gặp đều, ví dụ thứ Bảy đầu tháng.
- Tuần 4–7: thử và ghi. Mỗi người chọn một cách làm nghe được từ đồng nghiệp, thử ở lớp mình, ghi lại vài dòng về điều xảy ra.
- Tuần 8: buổi gặp thứ hai. Kể lại kết quả thử. Người điều phối ghi thành một trang vốn chung.
- Tuần 9–12: mở rộng có chọn lọc. Nếu nhóm thấy có ích, mỗi người có thể mời thêm một đồng nghiệp. Bàn xem cất vốn chung ở đâu, và ai điều phối kỳ tới.
Không cần kinh phí lớn. Cái cần nhất là thời gian và một chỗ ngồi. Nhiều nhóm luân phiên gặp ở trường của từng thành viên, vừa đỡ chi phí, vừa có dịp nhìn tận mắt môi trường lớp học của nhau.
Câu hỏi thường gặp
Cộng đồng thực hành có cần đăng ký với cơ quan nào không?
Một nhóm giáo viên tự nguyện gặp nhau để trao đổi chuyên môn thường không cần thủ tục riêng. Tuy vậy, nếu tổ chức gặp trong khuôn viên trường thì cần sự đồng ý của nhà trường, và nếu nhóm muốn hoạt động như một hội có tư cách pháp nhân thì phải theo quy định về hội hiện hành. Nên hỏi đầu mối quản lý ở địa phương khi không chắc.
Có nên gắn cộng đồng thực hành vào giờ bồi dưỡng thường xuyên?
Có thể, nếu cơ quan quản lý chấp nhận hình thức này và nhóm giữ được tính tự nguyện. Lợi là giáo viên được ghi nhận thời gian bỏ ra. Rủi ro là nhóm bị kéo về hình thức, phải nộp sản phẩm theo mẫu. Cách cân bằng là chỉ ghi nhận phần thời gian, còn nội dung để nhóm tự chọn.
Cộng đồng trực tuyến có thay được gặp mặt không?
Gặp trực tuyến giúp nối được giáo viên ở xa và tiết kiệm thời gian đi lại, nhưng khó tạo sự tin cậy bằng gặp mặt. Nhiều nhóm chọn cách lai: gặp mặt vài lần mỗi năm để quen nhau, giữa các lần thì trao đổi trực tuyến. Nhóm hoàn toàn trực tuyến cần người điều phối chủ động hơn nhiều.
Người mới vào nghề có nên tham gia không, hay chỉ dành cho người có kinh nghiệm?
Người mới rất nên tham gia. Lave và Wenger mô tả chính con đường người mới đi từ rìa vào trung tâm của nghề qua việc tham gia cộng đồng. Người mới đặt những câu hỏi mà người cũ đã quên là cần hỏi, nên họ cũng đóng góp. Điều cần là nhóm tạo chỗ an toàn để người mới dám nói.
Nhóm có nên mời chuyên gia bên ngoài đến nói chuyện không?
Thỉnh thoảng thì có, khi nhóm đã xác định rõ mình đang vướng ở đâu và cần kiến thức gì. Nhưng nếu buổi nào cũng có chuyên gia, nhóm dễ thành lớp nghe giảng và thành viên quen ngồi nghe thay vì kể và thử. Một tỉ lệ hợp lý là phần lớn các buổi do thành viên tự dẫn.
Làm sao biết cộng đồng thực hành có hiệu quả?
Không nên đo bằng số buổi gặp hay số người dự. Câu hỏi đáng hỏi là: thành viên có đem được cách làm nào về lớp không, có kể được thay đổi cụ thể ở trẻ không, có còn muốn đến buổi sau không. Vài câu chuyện cụ thể về thay đổi ở lớp có giá trị hơn một bảng thống kê đẹp.