NgoiSaoToanCau.orgNgôi Sao Toàn Cầu · Cộng đồng
Bảo vệ trẻ em

Quyền trẻ em theo Luật Trẻ em 2016: 25 quyền, ai có trách nhiệm và cha mẹ cần biết gì

Luật Trẻ em 2016 ghi 25 quyền cho người dưới 16 tuổi, từ quyền sống đến quyền bày tỏ ý kiến. Đọc theo nhóm, hiểu trách nhiệm của gia đình và chính quyền.

Quiet morning in a small Vietnamese home, a mother kneeling to tie a toddler shoe near an open wooden door, soft daylight, child seen from behind, wide angle

Theo Luật Trẻ em số 102/2016/QH13 (thông qua năm 2016, có hiệu lực từ ngày 1/6/2017), trẻ em là người dưới 16 tuổi và có 25 quyền, ghi từ Điều 12 đến Điều 36: nhóm quyền được sống và phát triển, nhóm quyền được bảo vệ khỏi xâm hại, nhóm quyền được tham gia. Cha mẹ là người đầu tiên chịu trách nhiệm bảo đảm các quyền này, sau đó tới nhà trường, chính quyền cơ sở và cả cộng đồng.

Nhiều phụ huynh nghe “quyền trẻ em” và nghĩ tới khẩu hiệu ngày 1/6. Thật ra đây là một bộ luật cụ thể, có định nghĩa rõ từng hành vi xâm hại, có danh sách hành vi bị nghiêm cấm và có ba cấp độ bảo vệ mà chính quyền xã, phường phải làm. Hiểu luật không để đi kiện ai, mà để biết ranh giới: việc nào là chuyện dạy con của mỗi nhà, việc nào là xâm hại mà người xung quanh có quyền và có trách nhiệm lên tiếng.

Luật Trẻ em 2016 ra đời từ đâu và áp dụng cho ai

Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em vào năm 1990, chỉ vài tháng sau khi Công ước được thông qua năm 1989, và thường được nhắc là nước đầu tiên ở châu Á làm việc này. Trước năm 2016, khung pháp lý trong nước là Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004. Luật Trẻ em 2016 thay thế luật cũ, đưa cách hiểu của Công ước vào sát hơn: trẻ em không chỉ là đối tượng được chăm lo mà là người có quyền, kể cả quyền được nói ý kiến của mình.

Phạm vi tuổi là điểm hay bị hiểu nhầm. Luật Trẻ em định nghĩa trẻ em là người dưới 16 tuổi, khác với Công ước (dưới 18 tuổi). Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi vẫn là người chưa thành niên theo Bộ luật Dân sự và được nhiều luật khác bảo vệ riêng, nhưng không thuộc phạm vi “trẻ em” của luật này. Với gia đình có con tuổi mầm non và tiểu học, khác biệt đó không đổi gì; nó chỉ quan trọng khi đọc các quy định về lao động hay tố tụng.

Đi kèm luật là Nghị định 56/2017/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết, trong đó có quy trình hỗ trợ, can thiệp khi trẻ bị xâm hại và vai trò của người làm công tác bảo vệ trẻ em ở cấp xã. Các văn bản hướng dẫn có thể được sửa đổi theo thời gian, nhất là sau đợt sắp xếp bộ máy và chính quyền hai cấp từ năm 2025, nên khi cần dùng cho một việc cụ thể, bạn nên tra bản hợp nhất mới nhất trên cổng văn bản pháp luật của nhà nước.

25 quyền của trẻ em, gom theo nhóm cho dễ nhớ

Luật liệt kê từng quyền theo điều, không chia nhóm. Bảng dưới gom lại theo cách cha mẹ dễ nhớ; tên quyền viết gọn theo luật.

NhómCác quyền trong luậtỞ nhà nghĩa là gì
Được sống và phát triểnQuyền sống; được khai sinh và có quốc tịch; được chăm sóc sức khoẻ; được chăm sóc, nuôi dưỡng; được giáo dục, học tập, phát triển năng khiếu; vui chơi, giải trí; giữ gìn bản sắc; quyền về tài sản; an sinh xã hộiLàm giấy khai sinh đúng hạn, tiêm chủng, cho con đi học, cho con thời gian chơi chứ không chỉ học
Được ở trong gia đìnhSống chung với cha mẹ; được đoàn tụ, liên hệ, tiếp xúc với cha mẹ; được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôiKhi cha mẹ ly thân hay đi làm xa, con vẫn có quyền gặp và liên lạc với cả hai bên
Được bảo vệKhông bị xâm hại tình dục; không bị bóc lột sức lao động; không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc; không bị mua bán, bắt cóc; được bảo vệ khỏi ma tuý; trong tố tụng; khi gặp thiên tai, thảm hoạ; bí mật đời sống riêng tưKhông đánh đập, không lăng mạ, không bắt con làm việc quá sức, không đăng chuyện riêng của con tuỳ tiện
Được tham giaTiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội; bày tỏ ý kiến và hội họpHỏi ý con về việc liên quan tới con, nghe con nói hết trước khi quyết
Nhóm cần hỗ trợ riêngQuyền của trẻ em khuyết tật; quyền của trẻ em không quốc tịch, lánh nạn, tị nạnTrẻ khuyết tật được học hoà nhập và có chính sách hỗ trợ riêng

Song song với quyền, luật ghi năm nhóm bổn phận của trẻ em với gia đình, nhà trường, cộng đồng, đất nước và bản thân (Điều 37 đến Điều 41). Bổn phận được viết theo độ tuổi và khả năng; với trẻ mầm non, đó chủ yếu là lễ phép, biết giữ gìn sức khoẻ và đồ đạc. Bổn phận không phải điều kiện để được hưởng quyền: một đứa trẻ hư vẫn có quyền không bị đánh.

Luật định nghĩa xâm hại trẻ em rộng hơn nhiều người nghĩ

Xâm hại là khái niệm bao trùm. Điều 4 của luật coi xâm hại trẻ em là mọi hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ, dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc và các hình thức gây tổn hại khác. Nghĩa là tổn hại tinh thần cũng tính, không chỉ vết bầm.

Bạo lực gồm cả lời nói và sự cô lập. Luật kể ra hành hạ, ngược đãi, đánh đập, xâm hại thân thể, nhưng cũng kể lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, cô lập, xua đuổi trẻ. Một đứa trẻ bị chửi rủa hằng ngày hay bị nhốt ngoài cửa để “dạy cho nhớ” cũng đang bị bạo lực theo nghĩa của luật.

Xâm hại tình dục không cần có vũ lực. Định nghĩa trong luật gồm cả việc lôi kéo, dụ dỗ trẻ tham gia hành vi liên quan đến tình dục, kể cả dùng trẻ vào mục đích khiêu dâm dưới mọi hình thức. Với trẻ nhỏ, kẻ xâm hại thường dụ bằng quà và sự thân thiết hơn là đe doạ.

Bỏ mặc cũng là xâm hại. Cha mẹ hay người chăm sóc không bảo đảm việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ, để trẻ ở tình trạng nguy hiểm kéo dài, là hành vi bỏ mặc. Ranh giới ở đây là sự nguy hiểm và tính kéo dài, không phải một lần sơ suất.

Điều 6 liệt kê các hành vi bị nghiêm cấm. Danh sách gồm tước quyền sống của trẻ, bỏ rơi, mua bán, xâm hại tình dục, bạo lực, bóc lột, lôi kéo trẻ vào ma tuý hay tệ nạn, và cả việc công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ mà không được sự đồng ý của trẻ từ đủ 7 tuổi trở lên và của cha mẹ, người giám hộ.

Ai chịu trách nhiệm: gia đình, nhà trường, chính quyền và người xung quanh

Luật đặt cha mẹ, người chăm sóc trẻ ở tuyến đầu: tạo môi trường sống an toàn, không bạo lực, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ, và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện trẻ bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại. Nhà trường và cơ sở giáo dục có trách nhiệm tương tự trong phạm vi của mình, kể cả với hành vi của chính giáo viên, nhân viên.

Ở cấp chính quyền, Ủy ban nhân dân xã, phường chịu trách nhiệm tổ chức bảo vệ trẻ em trên địa bàn, có người làm công tác bảo vệ trẻ em (thường là công chức văn hoá – xã hội kiêm nhiệm). Đây là đầu mối mà người dân ít biết nhất, nhưng lại là nơi tiếp nhận thông tin, đánh giá nguy cơ và lập kế hoạch hỗ trợ cho từng trẻ khi có vụ việc.

Điểm cuối cùng thường bị bỏ qua: luật quy định cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em. Hàng xóm, người bán hàng đầu hẻm, giáo viên dạy thêm, người giữ xe ở trường đều là “cá nhân” theo nghĩa đó. Thông báo không đòi bạn phải có bằng chứng chắc chắn; việc xác minh là phần của cơ quan chức năng. Kênh dễ nhất là Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em 111, miễn phí, hoạt động suốt ngày đêm; khi trẻ đang gặp nguy hiểm tức thời thì gọi công an 113.

Ba cấp độ bảo vệ trẻ em: phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp

Điều 47 chia việc bảo vệ trẻ em thành ba cấp độ. Hiểu ba cấp này giúp bạn biết khi gọi tổng đài hay báo xã, phường thì việc gì sẽ diễn ra tiếp theo.

Cấp độÁp dụng cho aiViệc thường làm
Phòng ngừaMọi trẻ em, mọi gia đìnhTruyền thông, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ, tập huấn cha mẹ, làm môi trường sống an toàn
Hỗ trợTrẻ có nguy cơ bị xâm hại, gia đình có nguy cơTư vấn cho cha mẹ, hỗ trợ trẻ đi học, kết nối dịch vụ y tế, xã hội, theo dõi định kỳ
Can thiệpTrẻ đã bị xâm hại hoặc có hoàn cảnh đặc biệtChăm sóc y tế, trị liệu tâm lý, bố trí nơi tạm lánh, trợ giúp pháp lý, xử lý người vi phạm, theo dõi lâu dài

Phần lớn hoạt động cộng đồng như nhóm cha mẹ, giờ đọc sách hay ngày hội gia đình nằm ở cấp phòng ngừa. Đó là cấp rẻ nhất và hiệu quả nhất, vì một đứa trẻ biết gọi đúng tên cơ thể mình và biết có người lớn để kể là một đứa trẻ khó bị nhắm tới hơn. Can thiệp là lúc mọi thứ đã muộn một phần và tốn kém hơn nhiều, cả về tiền lẫn về nỗi đau của trẻ.

Năm điều cha mẹ hay hiểu sai về quyền trẻ em

Những câu dưới đây hay nghe ở buổi họp phụ huynh. Mỗi câu có một phần đúng, nhưng phần sai thì dẫn tới cách làm sai.

  • “Quyền trẻ em làm con hư, không dạy được nữa.” Luật không cấm cha mẹ đặt quy tắc, nói không hay cho con chịu hậu quả tự nhiên của việc làm. Luật cấm bạo lực và xúc phạm. Dạy con và đánh con là hai việc khác nhau.
  • “Con mình thì mình có quyền.” Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ nuôi dạy, nhưng không có quyền xâm hại. Trẻ em là một người riêng, quyền của trẻ không thuộc về cha mẹ.
  • “Trẻ con biết gì mà hỏi ý kiến.” Quyền bày tỏ ý kiến được thực hiện theo độ tuổi và mức trưởng thành. Một bé bốn tuổi không quyết chọn trường, nhưng vẫn kể được con sợ ai, con thích gì ở lớp, và những điều đó đáng được nghe.
  • “Chuyện nhà người ta, mình không nên xen vào.” Với xâm hại trẻ em, luật đã trả lời: mọi cá nhân có trách nhiệm thông báo. Thông báo không phải là buộc tội; nó mở đường cho người có chuyên môn đến xem xét.
  • “Có luật rồi thì nhà nước lo.” Chính quyền xã, phường có rất ít người làm việc này so với số trẻ trên địa bàn. Phòng ngừa phần lớn nằm ở gia đình và cộng đồng, tức là ở chính bạn và hàng xóm của bạn.

Nếu chỉ nhớ một điều từ luật, hãy nhớ định nghĩa: bất cứ điều gì gây tổn hại thể chất hay tinh thần cho trẻ, lặp lại hay nghiêm trọng, đều là chuyện của cả cộng đồng, không riêng một nhà.

Câu hỏi thường gặp

Con mười bảy tuổi có được Luật Trẻ em bảo vệ không?

Luật Trẻ em 2016 chỉ áp dụng cho người dưới 16 tuổi. Người từ 16 đến dưới 18 tuổi là người chưa thành niên, vẫn được bảo vệ bởi Bộ luật Hình sự, Bộ luật Lao động, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và các quy định tố tụng riêng cho người dưới 18 tuổi, nên không phải đứng ngoài sự bảo vệ của pháp luật.

Đánh con một roi để răn có vi phạm luật không?

Luật Trẻ em cấm mọi hình thức bạo lực với trẻ, trong đó có đánh đập. Mức xử lý tuỳ tính chất, mức độ: có thể là nhắc nhở, xử phạt hành chính hay xử lý hình sự khi gây thương tích. Ngoài chuyện luật, các nghiên cứu về phát triển trẻ cho thấy đòn roi không giúp trẻ học hành vi tốt hơn mà làm tăng sợ hãi và hung hăng.

Tháng hành động vì trẻ em là tháng nào?

Tháng hành động vì trẻ em được tổ chức vào tháng 6 hằng năm, mở đầu bằng ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6. Mỗi năm có một chủ đề riêng do cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em công bố. Đây là dịp nhiều xã, phường tổ chức truyền thông và sân chơi cho trẻ, nhóm cha mẹ có thể đăng ký tham gia.

Người làm công tác bảo vệ trẻ em ở phường là ai, tìm ở đâu?

Thường là công chức văn hoá – xã hội của Ủy ban nhân dân xã, phường kiêm nhiệm, có nơi có thêm cộng tác viên ở thôn, tổ dân phố. Cách nhanh nhất là hỏi bộ phận một cửa của Ủy ban, hoặc hỏi tổ trưởng dân phố. Sau sắp xếp chính quyền năm 2025, tên gọi phòng ban có thể đổi nên cứ hỏi theo chức năng.

Luật có bắt cha mẹ phải hỏi ý con mọi việc không?

Không. Luật yêu cầu ý kiến của trẻ được lắng nghe và cân nhắc theo độ tuổi, mức độ trưởng thành, trong những việc liên quan tới trẻ. Quyết định cuối cùng với trẻ nhỏ vẫn thuộc về cha mẹ. Riêng một số việc như công bố thông tin riêng tư hay nhận con nuôi, luật đòi sự đồng ý của trẻ từ một độ tuổi nhất định.

Văn bản Luật Trẻ em đọc ở đâu cho chính xác?

Bản chính thức nằm trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật và Công báo. Khi tra, nên đọc bản hợp nhất có các sửa đổi mới nhất và đọc kèm Nghị định 56/2017/NĐ-CP. Tránh dựa vào bài tóm tắt trên mạng xã hội vì hay trích sai số điều hoặc lẫn với luật cũ năm 2004.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926 138 138