Giáo dục đa văn hoá cho trẻ mầm non là giúp trẻ ba việc cùng lúc: hiểu và quý chính mình cùng gia đình mình, thấy người khác có cách sống khác mà vẫn bình thường, và bắt đầu nhận ra khi một ai đó bị đối xử không công bằng chỉ vì khác. Nó không phải là cho trẻ học thuộc tên thủ đô các nước, cũng không phải một buổi mặc áo dân tộc chụp ảnh rồi thôi. Phần lớn việc diễn ra trong đời thường: cuốn sách nào nằm trên kệ, người lớn trả lời thế nào khi trẻ hỏi "sao bạn ấy nói lạ", bữa cơm có món của nhà ai.
Bài này dành cho phụ huynh, giáo viên mầm non và những người tổ chức sinh hoạt cho trẻ ở khu phố, khu trọ, nhà văn hoá. Phần dưới giải thích vì sao tuổi mầm non là lúc thích hợp, các khung nghĩ đã được giới giáo dục dùng nhiều năm, những cách làm hay bị nhầm, và một lộ trình nhỏ có thể bắt đầu ngay tuần này mà không cần tiền hay giáo cụ đặc biệt.
Vì sao bắt đầu từ tuổi mầm non, không đợi trẻ lớn
Nhiều người nghĩ chuyện văn hoá, khác biệt, định kiến là đề tài của học sinh lớn. Thực tế, trẻ ba bốn tuổi đã phân loại người quanh mình theo những gì nhìn thấy và nghe thấy: màu da, kiểu tóc, giọng nói, quần áo, món ăn mang theo. Phân loại là cách não trẻ sắp xếp thế giới, tự nó không xấu. Điều đáng lưu ý là trẻ cũng gắn các nhóm ấy với những nhận xét tốt xấu nghe lỏm được từ người lớn, từ phim hoạt hình, từ bạn cùng lớp, rồi coi đó là sự thật.
Nhà tâm lý học Gordon Allport trong cuốn The Nature of Prejudice (1954) đã mô tả định kiến như một lối tắt của suy nghĩ: người ta dựa vào khái quát sẵn có thay vì nhìn từng người cụ thể. Những lối tắt ấy hình thành sớm và khó gỡ khi đã thành thói quen. Ở tuổi mầm non, trẻ còn đang dựng khung hiểu về người khác, nên một người lớn bình tĩnh giải thích, một cuốn sách có nhân vật đa dạng, một người bạn khác nền văn hoá đều có tác dụng lớn hơn so với khi trẻ đã mười hai, mười ba tuổi.
Thêm một lý do rất thực tế: trẻ Việt Nam hôm nay lớn lên giữa nhiều luồng người. Khu công nghiệp có gia đình công nhân từ khắp các tỉnh, có kỹ sư và gia đình người nước ngoài; thành phố có trẻ từ vùng dân tộc thiểu số theo bố mẹ xuống làm ăn; nhiều lớp mầm non có con của các cặp vợ chồng khác quốc tịch. Trẻ sẽ gặp khác biệt dù người lớn có chuẩn bị hay không. Chuẩn bị trước giúp cuộc gặp đó thành tò mò thay vì sợ hãi hay trêu chọc.
Bốn mục tiêu của giáo dục chống định kiến, đọc cho người không chuyên
Mục tiêu một: trẻ vững về bản thân. Louise Derman-Sparks và Julie Olsen Edwards, trong cuốn Anti-Bias Education for Young Children and Ourselves do Hiệp hội Quốc gia về Giáo dục Trẻ nhỏ của Hoa Kỳ (NAEYC) xuất bản, đặt mục tiêu đầu tiên là mỗi trẻ thấy tự tin về mình, về gia đình và nhóm của mình mà không cần coi thường ai. Một đứa trẻ xấu hổ vì giọng quê của bố mẹ, hay giấu món ăn nhà mình, chưa sẵn sàng tôn trọng người khác.
Mục tiêu hai: trẻ thoải mái với sự đa dạng. Trẻ được tiếp xúc với nhiều cách sống, gọi được tên những khác biệt bằng lời lẽ chính xác và tử tế, và thấy rằng con người vừa giống nhau ở nhu cầu căn bản, vừa khác nhau ở cách đáp ứng. Ai cũng cần ăn, nhưng có nhà ăn bằng đũa, có nhà bốc tay, có nhà dùng thìa nĩa.
Mục tiêu ba: trẻ nhận ra điều không công bằng. Ở tuổi mầm non, việc này rất cụ thể: "Bạn ấy không được chơi vì bạn ấy nói giọng khác, như vậy có công bằng không?". Trẻ học được rằng có những lời nói làm người khác đau, và những lời đó sai dù ai nói.
Mục tiêu bốn: trẻ biết làm một việc nhỏ. Biết nói "đừng trêu bạn", biết rủ bạn mới vào chơi, biết kể với người lớn khi thấy bạn bị bắt nạt. Đây là mục tiêu khó nhất và đòi hỏi người lớn làm gương trước.
Một lưu ý khi dùng khung này. Khung được viết trong bối cảnh Hoa Kỳ, nơi chuyện chủng tộc nổi bật. Ở Việt Nam, những khác biệt trẻ gặp hằng ngày thường là vùng miền, giọng nói, dân tộc, hoàn cảnh kinh tế, gia đình đơn thân, gia đình có người khuyết tật. Bốn mục tiêu vẫn dùng được, chỉ cần đổi ví dụ cho đúng đời sống quanh trẻ.
Cách làm hay bị nhầm và cách làm có tác dụng hơn
Nhiều hoạt động gắn nhãn "đa văn hoá" thực ra lại củng cố hình ảnh rập khuôn. Bảng dưới đặt cạnh nhau những lối làm phổ biến và hướng điều chỉnh.
| Lối làm phổ biến | Vì sao chưa đủ | Điều chỉnh |
|---|---|---|
| Một "ngày văn hoá thế giới" mỗi năm, mặc trang phục các nước | Trẻ hiểu văn hoá là đồ lạ, chỉ xuất hiện trong dịp lễ, như đi tham quan | Rải các chi tiết văn hoá vào sinh hoạt thường ngày: sách, bài hát, món ăn, trò chơi |
| Giới thiệu mỗi nước bằng một hình ảnh: Nhật là kimono, châu Phi là trống | Gộp cả một châu lục hàng chục nước thành một nét, bỏ qua đời sống hiện đại | Cho trẻ thấy người nước đó hôm nay đi học, đi chợ, ở nhà ra sao, bên cạnh trang phục truyền thống |
| Nói "ai cũng như nhau cả, không có gì khác" | Trẻ thấy rõ có khác; người lớn né tránh khiến trẻ nghĩ đó là chuyện cấm nói | Thừa nhận khác biệt, gọi tên bằng lời tử tế, rồi chỉ ra điểm giống |
| Chỉ nói về văn hoá nước ngoài | Bỏ quên sự đa dạng ngay trong nước và ngay trong lớp | Bắt đầu từ gia đình các bạn trong lớp, vùng miền, các dân tộc Việt Nam |
| Người lớn đọc to bài giảng về tôn trọng | Trẻ nhỏ học qua việc làm và câu chuyện nhiều hơn qua lời răn | Kể chuyện, đóng vai, xử lý ngay những tình huống thật trong giờ chơi |
Derman-Sparks gọi lối làm ở dòng đầu là "chương trình kiểu du lịch": trẻ ghé thăm một nền văn hoá trong một ngày rồi quay về đời thường, nơi mọi thứ vẫn chỉ phản ánh một nhóm. Lễ hội vẫn có chỗ, nhưng nên là một phần của bức tranh lớn chứ không phải toàn bộ.
Căn cứ trong luật và công ước quốc tế
Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em, được Việt Nam phê chuẩn năm 1990, là một trong những quốc gia đầu tiên làm việc này, nói rõ ở Điều 29 rằng giáo dục trẻ em cần hướng tới việc phát triển sự tôn trọng bản sắc văn hoá, ngôn ngữ của chính trẻ, các giá trị của đất nước trẻ đang sống và của các nền văn minh khác, đồng thời chuẩn bị cho trẻ sống có trách nhiệm trong tinh thần hiểu biết, hoà bình, khoan dung, bình đẳng và hữu nghị giữa các dân tộc. Điều 2 của Công ước yêu cầu không phân biệt đối xử với trẻ vì nguồn gốc dân tộc, ngôn ngữ hay bất cứ địa vị nào của trẻ hoặc cha mẹ.
Luật Trẻ em 2016 của Việt Nam cũng ghi nguyên tắc không phân biệt đối xử với trẻ em, và quyền của trẻ được giữ gìn bản sắc, phát huy truyền thống văn hoá của dân tộc mình. Chương trình giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo có nội dung cho trẻ làm quen với lễ hội, phong tục quê hương, đất nước, và phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội như biết quan tâm, chia sẻ với bạn.
Các văn bản trên không cho một giáo án cụ thể, nhưng chúng cho người lớn một chỗ dựa khi bàn với nhau: việc dạy trẻ tôn trọng khác biệt không phải sở thích riêng của một trường hay một nhóm phụ huynh, mà là hướng chung đã được ghi thành nguyên tắc.
Lộ trình bốn tuần bắt đầu ở nhà hoặc trong một nhóm chơi
Lộ trình dưới đây dùng được cho một gia đình, một nhóm cha mẹ ở chung cư, hoặc một lớp sinh hoạt cuối tuần ở nhà văn hoá. Mỗi tuần một trọng tâm, mỗi ngày chỉ vài phút.
- Tuần một, nhìn lại gia đình mình: cùng trẻ kể quê nội, quê ngoại ở đâu, ông bà nói giọng gì, nhà hay nấu món gì vào ngày giỗ, ngày Tết. Vẽ hoặc dán ảnh thành một trang "nhà mình".
- Tuần hai, nhìn sang các bạn: mời trẻ hỏi một bạn trong nhóm xem nhà bạn ăn sáng món gì, gọi bà bằng từ gì. Người lớn ghi lại những điểm giống và khác, đọc cho cả nhóm nghe.
- Tuần ba, mở ra vùng miền và các dân tộc trong nước: nghe một làn điệu dân ca của một vùng khác, xem ảnh chợ phiên vùng cao, nếm một món của miền khác với nhà mình.
- Tuần bốn, mở ra thế giới: chọn một nước, đọc một truyện dân gian của nước đó, học một câu chào, tìm xem trẻ con ở đó chơi trò gì giống trò của mình.
- Cuối mỗi tuần, hỏi trẻ một câu mở: "Con thấy điều gì lạ nhất? Điều gì giống nhà mình nhất?". Lắng nghe, không sửa câu trả lời.
Trình tự đi từ gần đến xa có lý do: trẻ cần thấy chính mình có văn hoá trước, khi đó văn hoá của người khác mới không bị nhìn như "kỳ lạ". Trẻ nào chưa hứng thú thì không ép, lặp lại sau vài tháng với một cách khác.
Vai trò của người lớn: bắt đầu từ chính mình
Nhìn lại lời nói hằng ngày. Những câu đùa về giọng vùng miền, những nhận xét về người nước này người nước kia trong bữa cơm, trẻ nghe hết. Không ai sạch hoàn toàn định kiến; điều có thể làm là nhận ra và sửa trước mặt trẻ: "Bố vừa nói chưa đúng, không phải ai ở đó cũng như vậy".
Chọn từ ngữ chính xác. Nói "bạn người Ê Đê", "chú người Hàn Quốc", thay vì những tên gọi chung chung hay mang ý chê. Khi không biết gọi thế nào cho đúng, hỏi chính người đó hoặc tra lại, rồi dạy trẻ cách gọi ấy.
Chấp nhận mình không biết hết. Trẻ hỏi một câu về văn hoá khác mà người lớn không biết, cứ nói "mẹ chưa biết, mình cùng tìm hiểu". Như vậy trẻ học được rằng tìm hiểu là việc bình thường, không phải ai cũng phải biết sẵn.
Mở rộng vòng quen biết của chính mình. Trẻ học về sự đa dạng nhiều nhất qua những người lớn quanh mình. Gia đình có bạn bè từ nhiều vùng, nhiều nền văn hoá, thường xuyên qua lại, dạy trẻ nhiều hơn mọi cuốn sách.
Đa văn hoá trong nhóm cộng đồng: giữ cho đúng tinh thần
Khi đưa giáo dục đa văn hoá vào sinh hoạt cộng đồng, như tủ sách khu phố, nhóm chơi cuối tuần, câu lạc bộ cha mẹ, có vài nguyên tắc giúp hoạt động không lệch hướng. Thứ nhất, mời người thuộc nền văn hoá đó tham gia khi có thể, để họ tự kể về mình, thay vì người ngoài kể hộ. Một bà mẹ người Khmer hướng dẫn trẻ gói bánh của dân tộc mình có giá trị hơn nhiều so với một bài giới thiệu đọc từ mạng.
Thứ hai, tránh biến người khác thành "vật trưng bày". Một đứa trẻ có bố người nước ngoài không có nghĩa vụ đứng trước nhóm giới thiệu "nước của bố con". Hỏi gia đình trước, và để trẻ tự quyết định có muốn kể hay không.
Thứ ba, chú ý cả những khác biệt không thuộc về quốc gia hay dân tộc: gia đình chỉ có bố hoặc chỉ có mẹ, gia đình ông bà nuôi cháu, gia đình có người khuyết tật, gia đình làm nghề lao động chân tay. Trẻ cần thấy tất cả các kiểu gia đình ấy đều có chỗ trong câu chuyện chung. Đa văn hoá theo nghĩa rộng là giúp mọi đứa trẻ thấy mình được nhìn thấy.
Câu hỏi thường gặp
Giáo dục đa văn hoá có làm trẻ quên mất văn hoá Việt Nam không?
Không, nếu làm đúng trình tự. Mục tiêu đầu tiên chính là giúp trẻ hiểu và tự tin về văn hoá của gia đình và đất nước mình. Trẻ biết rõ gốc của mình thì càng dễ nhìn người khác bằng sự tò mò, không thấy bị đe doạ. Lộ trình nên đi từ gia đình, vùng miền, dân tộc trong nước rồi mới ra thế giới.
Trẻ mấy tuổi thì bắt đầu được?
Có thể bắt đầu từ khi trẻ biết chơi cùng bạn, khoảng hai đến ba tuổi, bằng sách tranh có nhân vật đa dạng, bài hát, món ăn. Trao đổi bằng lời về khác biệt và công bằng thường hợp hơn từ bốn tuổi trở lên, khi trẻ đã đặt câu hỏi vì sao. Với trẻ nhỏ hơn, việc chính là môi trường quanh trẻ.
Nhà ở vùng ít người nước ngoài thì có cần không?
Vẫn cần. Sự đa dạng không chỉ đến từ người nước ngoài mà còn từ vùng miền, dân tộc, hoàn cảnh gia đình. Trẻ lớn lên rồi sẽ đi học, đi làm ở nơi đông người khác mình. Sách, nhạc, truyện dân gian và những người khách ghé qua là đủ để bắt đầu ở bất kỳ đâu.
Giáo viên mầm non có phải soạn giáo án riêng cho nội dung này không?
Không nhất thiết. Cách hiệu quả là lồng vào các hoạt động đã có: giờ kể chuyện chọn truyện từ nhiều nước, góc chơi đóng vai có đồ dùng nấu ăn của nhiều nền văn hoá, giờ âm nhạc thêm bài hát ru các vùng. Điều cần chuẩn bị nhiều nhất là cách giáo viên trả lời khi trẻ nêu nhận xét về khác biệt.
Nếu ông bà trong nhà hay nói những câu định kiến thì làm sao?
Tránh tranh cãi trước mặt trẻ. Sau đó nên nói riêng với ông bà, nhẹ nhàng, dựa vào điều ông bà quan tâm là cháu ngoan và có bạn. Với trẻ, bố mẹ giải thích lại bằng lời đơn giản: mỗi người một cách nghĩ, nhưng nhà mình không chê người khác vì họ khác mình.
Có tài liệu tiếng Việt nào về giáo dục chống định kiến cho trẻ nhỏ?
Tài liệu chuyên sâu bằng tiếng Việt còn ít. Chương trình giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các tài liệu về quyền trẻ em của UNICEF Việt Nam là điểm xuất phát. Người đọc được tiếng Anh có thể tìm cuốn Anti-Bias Education for Young Children and Ourselves của Derman-Sparks và Edwards.